Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và vấn đề trách nhiệm giải trình của Chính phủ

14:39 16/05/2019

Ở Việt Nam, thuật ngữ “trách nhiệm giải trình” (accountability) chỉ được đề cập đến nhiều trong vài năm trở lại đây, đặc biệt là khi bàn về vấn đề công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trong nhiều tài liệu và trên nhiều diễn đàn khoa học, vấn đề "trách nhiệm giải trình" và "bảo đảm quyền được thông tin" được đặt ra như một phương thức nhằm phòng, chống tham nhũng. Vậy, trách nhiệm giải trình và vấn đề tiếp cận thông tin của người dân có mối liên hệ như thế nào và những vấn đề đang đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề này trong thời gian tới.

I. Quyền được thông tin - yêu cầu thúc đẩy trách nhiệm giải trình

Quyền được thông tin hay quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế và pháp luật quốc gia. Điều 19 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1948) đã ghi nhận: "Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến; kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp; cũng như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào, và không có giới hạn về biên giới". Tinh thần này tiếp tục được khẳng định tại Điều 19 Công ước quốc tế và các quyền dân sự và chính trị năm 1966: "Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ".

Quyền tiếp cận thông tin cũng được đề cập trong các văn kiện pháp lý quốc tế khác như: Hiến chương Châu Phi về Quyền con người (Điều 9); Hiến chương Châu Mỹ về Quyền con người (Điều 13). Ngày 17/11/2008, Hội Đồng Châu Âu cũng có Công ước về tiếp cận các tài liệu chính thức, trong đó xác định tính minh bạch của các cơ quan công quyền là một yếu tố quan trọng trong quản trị nhà nước... Bên cạnh đó, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin còn được thể hiện trong nhiều văn kiện quốc tế và khu vực trên nhiều lĩnh vực cụ thể.

Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, vấn đề tiếp cận thông tin được Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (năm 2003) quy định chi tiết hơn và liên quan trực tiếp đến trách nhiệm của các quốc gia. Điều 10 Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng quy định về vấn đề báo cáo công khai, đặt ra yêu cầu đối với quốc gia thành viên là "Ban hành những thủ tục hoặc quy định cho phép công chúng, khi thích hợp, có được thông tin về tổ chức, quá trình thực hiện và ra quyết định của các cơ quan hành chính nước mình, cũng như các thông tin về quyết định và hành vi pháp lý liên quan đến công chúng mà vẫn đảm bảo được bí mật và thông tin cá nhân; Đơn giản hóa thủ tục hành chính ở những khâu thích hợp nhằm tạo điều kiện cho công chúng tiếp cận với cơ quan có thẩm quyền ra quyết định; Công bố thông tin, trong đó có thể bao gồm báo cáo định kỳ, về nguy cơ tham nhũng trong các cơ quan hành chính nước mình". Điều 13 Công ước tiếp tục quy định: "Tăng cường tính minh bạch trong các quy trình ra quyết định, thúc đẩy đóng góp của công chúng vào các quy trình ra quyết định; Đảm bảo cho công chúng được tiếp cận thông tin một cách hiệu quả".

Tại Chương trình hành động chống tham nhũng dành cho Châu Á và khu vực Châu Á - Thái Bình Dương được ký kết tại Tokyo Nhật Bản năm 2001 cũng quy định vấn đề tiếp cận thông tin đối với hệ thống hành chính là những nội dung trong các trọng tâm của Chương trình. Trong các trọng tâm của Chương trình hành động đều có đề cập đến vấn đề tiếp cận thông tin. Ví dụ, tại Trọng tâm 1 về Phát triển các hệ thống hành chính công minh bạch và hữu hiệu đã đề cập đến vấn đề "Hệ thống tăng cường minh bạch chẳng hạn như bằng cách công bố và/hoặc giám sát tàn sản và các khoản nợ cá nhân", "Các biện pháp và hệ thống tăng cường minh bạch tài chính"... Tại Trọng tâm 3 về Hỗ trợ sự tham gia tích cực của công chúng đã xác định: "Thực thi các biện pháp cho phép công chứng có quyền tiếp cận một cách thực chất đối với các thông tin cần thiết".

Công ước về tiếp cận thông tin, sự tham gia của công chúng trong việc ra quyết định và tiếp cận tư pháp trong các vấn đề về môi trường (năm 1998) quy định khá cụ thể về các nội dung như: Tiếp cận thông tin về môi trường (Điều 4); Thu thập và cung cấp thông tin môi trường (Điều 5); Sự tham gia của công chúng trong các quyết định về các hoạt động môi trường cụ thể (Điều 6); Sự tham gia của công chúng trong các kế hoạch, các chương trình và chính sách liên quan đến môi trường (Điều 7); Sự tham gia của công chúng trong quá trình chuẩn bị điều chỉnh các luật hoặc các văn bản quy phạm có tính ràng buộc pháp lý có thể áp dụng chung; Tiếp cận tư pháp (Điều 9)...

Trên bình diện các quốc gia, hiện rất nhiều quốc gia trên thế giới ban hành các đạo luật riêng về quyền tiếp cận thông tin. Đạo luật về Tự do báo chí của Thụy Điển được ban hành năm 1766 được nhắc đến như đạo luật đầu tiên của một quốc gia về quyền tiếp cận thông tin. Tính đến nay đã có khoảng 100 quốc gia ban hành Luật về tiếp cận thông tin(1).

Ở Việt Nam, quyền tiếp cận thông tin của công dân được quy định lần đầu tiên tại Điều 69 Hiến pháp năm 1992 với tên gọi là "quyền được thông tin". Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định công dân có quyền "tiếp cận thông tin" và việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Trong nhiều văn kiện của Đảng cũng đã đề cập đến yêu cầu về "bảo đảm quyền được thông tin" của công dân(2), nhất là trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đặt ra yêu cầu "Nghiên cứu ban hành  Luật Bảo đảm quyền được thông tin của công dân".

Ngày 06/4/2016, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 đã thông qua Luật Tiếp cận thông tin (có hiệu lực từ ngày 01/7/2018). Về phạm vi, Luật Tiếp cận thông tin giới hạn trong việc việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân. Việc ghi nhận quyền tiếp cận thông tin và sự ra đời của Luật Tiếp cận thông tin không chỉ nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân mà còn là một yếu tố thúc đẩy thực hiện trách nhiệm giải trình của Chính phủ, đặc biệt là trước yêu cầu của công tác phòng, chống tham nhũng.

II. Trách nhiệm giải trình - trụ cột quan trọng của nền quản trị minh bạch

“Trách nhiệm giải trình” là thuật ngữ pháp lý mới xuất hiện trong vài năm trở lại đây khi tiếp cận đến vấn đề công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và đã chính thức được quy định trong một số văn bản quy phạm pháp luật. Tại Nghị định 90/2013/NĐ-CP đã giải thích: "Giải trình là việc cơ quan nhà nước cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó"(3). Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân cũng duy định: "Giải trình là việc cơ quan, cá nhân hữu quan giải thích, làm rõ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo yêu cầu của chủ thể giám sát quy định tại Luật này"(4).

Trách nhiệm giải trình không chỉ bao gồm trách nhiệm của các chủ thể khi công khai các thông tin, công khai hoạt động của các chủ thể theo quy định mà bao gồm cả việc giải thích, làm rõ để người dân nhận biết đúng bản chất các thông tin, hoạt động đó. Nói cách khác, “trách nhiệm giải trình” được xem như là một yếu tố cấu thành không thể thiếu khi đề cập đến “công khai, minh bạch” hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, là phương tiện để hướng tới sự  “minh  bạch”. 

Theo nghĩa chung nhất, trách nhiệm giải trình không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước trước xã hội mà còn là trách nhiệm của chủ thể quản lý với đối tượng thụ hưởng/chịu sự quản lý nói chung. Chính vì vậy, một số tổ chức quốc tế đã coi trách nhiệm giải trình là một biện pháp quan trọng để đạt đến mục tiêu hoạt động của mình một cách minh bạch. Vấn đề trách nhiệm giải trình không chỉ đề cập trong khu vực công mà còn được đề cập đến với cả khu vực tư.

Trong khu vực công, trách nhiệm giải trình được hiểu trên hai bình diện. Thứ nhất, trách nhiệm giải trình của Nhà nước nói chung. Ngay từ góc độ này, trách nhiệm giải trình cũng có những cấp độ khác nhau và mức độ để bảo đảm và luôn xác định là vấn đề quan trọng trong quản trị nhà nước. Có quốc gia ban hành luật về trách nhiệm giải trình (Canada), có quốc gia thành lập cơ quan giám sát về trách nhiệm giải trình trong cung cấp dịch vụ công (Nam Phi)(5)Thứ hai,trách nhiệm giải trình của  cán  bộ, công  chức,  người  có  thẩm quyền thực thi nhiệm vụ, công vụ. Dù với bình diện nào thì trách nhiệm giải trình được thực hiện bằng các hình thức khá đa dạng và trước hết là gắn liền với các hình thức công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có thẩm quyền nhưng có thể được tiếp cận từ các góc độ khác nhau.

Từ góc độ thực hiện phương thức giải trình, trách nhiệm giải trình được thể hiện bằng hai hình thức là giải trình chủ động và giải trình bị động. Giải trình chủ động là các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân chủ động thông tin, chủ động công khai nội dung hoạt động của mình. Giải trình bị động: Là các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin theo yêu cầu của các chủ thể có liên quan. Để giải trình về hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thì phải sử dụng các hình thức công khai thông tin. Ở Việt Nam, Khoản 1, Điều 12, Luật PCTN của Việt Nam quy định 7 hình thức công khai hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhưng có thể phân thành hai nhóm. Nhóm các hình thức chủ động công khai bao gồm 6 hình thức: công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; niêm yết tại trụ sở làm việc; thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; phát hành ấn phẩm; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; đưa lên trang thông tin điện tử. Hình thức giải trình bị động là hình thức cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền phải cung cấp thông tin, làm rõ các quyết định, hành vi của mình khi có yêu cầu. Hình thức cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định tại điểm g, Khoản 1, Điều 12 Luật Phòng, chống tham nhũng chính là một trong những hình thức giải trình bị động.

Từ góc độ phạm vi trách nhiệm giải trình, trên bình diện rộng, trách nhiệm giải trình là trách nhiệm bảo đảm công khai, minh bạch của cả bộ máy nhà nước. Nhiều văn bản pháp luật của các nước trên thế giới và ở Việt Nam tiếp cận và quy định trách nhiệm này. Ở nhiều quốc gia trên thế giới, việc chủ động công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan, tổ chức đơn vị, cá nhân đều được thực hiện trên cơ sở các đạo luật, gắn với việc công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị nhằm hướng đến sự bảo đảm quyền dân chủ trong quản lý nhà nước và bảo đảm để xã hội thực hiện quyền giám sát.

Trên bình diện hẹp, trách nhiệm giải trình gắn với trách nhiệm của cán bộ, công chức và người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Giải trình của cán bộ, công chức và người có thẩm quyền thường được phân thành hai loại là: Giải trình trong hệ thống (tập trung vào giải trình việc tuân thủ các nguyên tắc, quy định và kiểm soát từ trên xuống - giải trình hướng lên trên) và giải trình ra bên ngoài (tập trung vào giải trình đối với kết quả hoạt động, kết quả thực hiện nhiệm vụ, công vụ trước nhân dân). Dù giải trình trong hệ thống hay giải trình ra bên ngoài thì trách nhiệm giải trình trong trường hợp này thường gắn với những vụ việc cụ thể liên quan đến trách nhiệm công vụ đã và đang được thực hiện. Do đó, trách nhiệm giải trình trong những trường hợp này rất có ý nghĩa cho việc ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì động cơ vụ lợi và có ý nghĩa trực tiếp trong việc bảo đảm quyền lợi của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng chịu sự quản lý.

Trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, người có thẩm quyền không chỉ là trách nhiệm giải trình việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà còn bao gồm cả giải trình về nguồn gốc tài sản, gắn liền với việc công khai tài sản, thu nhập bởi lẽ “quy định về công khai thu nhập, tài sản là một lời nhắc nhở hiệu quả đối với các công chức về bảo đảm trách nhiệm giải trình đi kèm với chức trách”(6). Điều này cũng được khẳng định tại Điều 20, Công ước Liên hợp quốc về Chống tham nhũng quy định hành vi làm giàu bất hợp pháp đối với “việc tài sản của một công chức tăng đáng kể so với thu nhập hợp pháp của công chức mà công chức này không giải thích được một cách hợp lý về lý do tăng đáng kể như vậy”.

Ở Việt Nam, mặc dù các đạo luật chưa phân định rõ ràng về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước theo các tiêu chí cụ thể nhưng quy định về những vấn đề này đã được thể hiện trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, như: Luật Tổ chức Quốc hội; Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Luật Báo chí; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Tiếp cận thông tin… Trên thực tế, cả việc giải trình theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp đều đã được thực hiện với những mức độ khác nhau. Nhiều cuộc họp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp… đã được phát thanh, truyền hình công khai để nhân dân theo dõi. Hầu hết các nội dung thảo luận trong kỳ họp Quốc hội đều được thể hiện bằng văn bản và được công khai trên Website của Quốc hội. Các cơ quan nhà nước cũng đã công khai dự thảo luật, nghị định, thông tư để nhân dân góp ý…

Trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, người có trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, cũng đã được đề cập đến trong nhiều văn bản như: Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12/5/2009 của Chính phủ về Chiến lược quốc gia Phòng, chống tham nhũng đến năm 2020; Kế hoạch thực hiện Chiến lược giai đoạn 2009 - 2011; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (năm 2012); Nghị định số 90/2013/NĐ-CP ngày 08/08/2013 của Chính phủ ban hành quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày  17/7/2013 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập…

Tổng kết 10 năm thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, đánh giá về thực hiện quy định về giải trình liên quan đến tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, Chính phủ cũng nhận định: "Việc kê khai tài sản, thu nhập còn nặng về hình thức; hầu hết các bản kê khai chưa được kiểm tra, xác minh, kiểm chứng; chưa giúp cho các cơ quan chức năng kiểm soát được những biến động về tài sản của người có chức vụ, quyền hạn; nhiều cơ quan, đơn vị chưa nắm đầy đủ trình tự, thủ tục kê khai và công khai; còn lúng túng trong việc hướng dẫn nguyên tắc, phạm vi biến động tài sản, loại tài sản, thu nhập phải kê khai, giải trình"(7).

Như vậy, vấn đề công khai minh bạch hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, vấn đề bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và trách nhiệm giải trình có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trách nhiệm giải trình gắn liền với trách nhiệm cung cấp thông tin đến đối tượng thụ hưởng/chịu sự quản lý và bảo đảm các thông tin đó gắn liền với trách nhiệm thực thi nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Việc cung cấp thông tin dù dưới hình thức chủ động hay bị động nhưng không đủ để đối tượng tiếp cận thông tin một cách thực chất và minh bạch thì chưa đủ bảo đảm trách nhiệm giải trình. Bên cạnh đó, trách nhiệm giải trình còn được coi là một phương thức bảo đảm cho việc thực thi quyền lực nhà nước chịu sự kiểm soát, giám sát.

Trong thời gian qua, pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quy định về trách nhiệm công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và trách nhiệm giải trình đang dần được hoàn thiện. Sự ra đời của Luật Tiếp cận thông là một bước tiến quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân và cũng có thể nhận định rằng thông qua Luật tiếp cận thông tin sẽ mang đến cho Việt Nam nhiều cơ hội hiện đại hóa các thể chế của mình”(8). Quy định của pháp luật về công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng dần được hoàn thiện. Trong hơn 10 năm thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, quy định về công khai, minh bạch còn được thể hiện trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành. Vấn đề trách nhiệm giải trình việc thực thi công vụ lần đầu tiên được quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi, bổ sung năm 2012) và được Chính phủ hướng dẫn thi hành bằng Nghị định số 90/2013/NĐ-CP và có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan hành chính nhà nước thành lập. Sự hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước đã tạo ra những sự thay đổi từ trong nhận thức và hành động của các cấp các ngành, góp phần quan trọng và công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam.

III. Kiến nghị

Với hệ thống quy định hiện nay và những vấn đề đang đặt ra trong phòng, chống tham nhũng, trong thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định cụ thể về trách nhiệm giải trình theo hướng sau:

Thứ nhất, cần nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, người có thẩm quyền trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình.

Trách nhiệm giải trình không chỉ đơn thuần là trách nhiệm công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị mà còn, không chỉ hướng dẫn quy định về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước mà còn phải quy định rõ trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, người có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và giải trình về nguồn gốc tài sản tăng thêm. Trong giải trình việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, người có thẩm quyền cần tập trung vào các quy định về nghĩa vụ giải trình theo yêu cầu. Với hệ thống tổ chức các cơ quan có thẩm quyền quản lý như hiện nay, nếu quy định tất cả các cán bộ, công chức, người có thẩm quyền quản lý đều có nghĩa vụ giải trình về việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của mình mỗi khi công dân có yêu cầu sẽ làm cho hoạt động quản lý thêm phức tạp. Do vậy, cần xác định việc giải trình của cán bộ, công chức, người có thẩm quyền trong việc thực thi nhiệm vụ, công vụ là nhằm tháo gỡ những băn  khoăn,  vướng  mắc  của  người  dân, nhằm cung cấp thông tin, bằng chứng để chứng minh tính đúng đắn trong hoạt động quản lý. Đồng thời, quy định và thực hiện trách nhiệm giải trình đối với một số nhóm chủ thể là cán bộ, công chức, người có thẩm quyền quản lý, đặc biệt là trong hệ thống cơ quan hành chính, mà việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ liên quan trực tiếp đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và trách nhiệm giải trình sẽ phát sinh trên cơ sở yêu cầu chính đáng của công dân hoặc sự quan tâm nổi bật của truyền thông.

Thứ hai, tăng cường trách nhiệm giải trình, gắn với việc công khai, minh bạch  hoạt động thực thi quyền lực nhà nước, nhất là trong quá trình ban hành các quyết định hành chính cá biệt.

Pháp luật cần có quy định cụ thể về công khai, minh bạch quá trình trình, ban hành văn bản cá biệt của các cơ quan quản lý nhà nước. Yêu cầu này là nhiệm vụ đầu tiên đã được thể hiện trong Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020: ‘Minh bạch hóa quá trình soạn thảo, trình, ban hành chính sách, pháp luật; quá trình chuẩn bị, trình, ban hành quyết định, văn bản hành chính gắn liền với việc cải cách thủ tục hành chính”. Việc minh bạch quá trình trình, ban hành các quyết định hành chính cá biệt sẽ giúp cho người dân tiếp cận được thông tin về hoạt động của bộ máy nhà nước, góp phần bảo đảm thực hiện nghiêm túc các quy định về trách nhiệm giải trình theo yêu cầu của Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi, bổ sung năm 2012) và Nghị định số 90/2013/NĐ-CP. Một trong những giải pháp nhằm minh bạch hóa quá trình ban hành văn bản cá biệt là sớm ban hành Luật về ban hành quyết định hành chính.

Thứ ba, tăng cường trách nhiệm giải trình của người có chức vụ, quyền hạn về nguồn gốc tài sản tăng thêm.

Nhìn lại quá trình phát triển của chế định minh bạch tài sản thu nhập trong pháp luật về phòng, chống tham nhũng cho thấy đã có những bước tiến quan trọng để tiến tới kiểm soát tài sản của người có chức vụ, quyền hạn. Mặc dù không quy định việc không giải trình được nguồn gốc tài sản tăng thêm đáng kể thành tội làm giàu bất hợp pháp (như yêu cầu tại Điều 20 Công ước của Liên hợp quốc về Chống tham nhũng), nhưng rõ ràng, đây là một sự phát triển theo hướng tiếp cận dần với các chuẩn mực quốc tế trong kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Với xu hướng đó, thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện quy định trách nhiệm giải trình của người có chức vụ, quyền hạn về nguồn gốc tài sản tăng thêm theo hướng tăng mức trách nhiệm pháp lý trong trường hợp người có chức vụ, quyền hạn không giải trình được nguồn gốc tài sản tăng thêm./. 

TS. Nguyễn Tuấn Khanh - Thanh tra Chính phủ
------------------------------------------------
Chú thích:
 (1) Chính phủ: Tờ trình số 461/TTr - CP  ngày 29/9/2015 về dự án Luật tiếp cận thông tin;
(2) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011);
(3) Khoản 1 Điều 3 Nghị định 90/2013/NĐ-CP ngày 08/08/2013 của Chính phủ quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao;
(4) Khoản 8 Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015;
(5) Thanh tra Chính phủ (2017): Kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của một số nước trên thế giới (Tài liệu phục vụ sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng);
(6) StAR: Việc công, lợi ích tư bảo đảm trách nhiệm giải trình thông qua công khai thu nhập, tài sản, tr.7;
(7) Chính phủ: Báo cáo số 330/BC-CP ngày 22  tháng 9 năm 2016 tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng ;
(8) Thanh tra Chính phủ, Ngân hàng Thế giới (2012): Tham nhũng từ góc nhìn của người dân, doanh nghiệp và cán bộ, công chức, viên chức, Nxb CTQG, tr.94-95.

Chia sẻ bài viết

Thong ke

Thông tin thời tiết

PGS.TS. Nguyễn Đức Bách

Nguyễn Trung Thành

Đại tá Lê Tân Phương

Tỉ giá hối đoái

Viện Khoa học Môi trường và Xã hội

Viện Khoa học Môi trường và Xã hội